Thứ Ba, 29 tháng 9, 2020

Cha mẹ cho con chơi điện thoại quá nhiều sẽ khiến trẻ bị chậm nói

Cha mẹ cho con chơi điện thoại quá nhiều sẽ khiến trẻ bị chậm nói https://ift.tt/2HBLbDf

Ngày nay, nhiều cha mẹ thường đưa điện thoại thông minh cho con chơi để giữ con yên lặng hoặc để có thời gian làm việc khác. Có thể bạn nghĩ đấy chỉ là một khoảng thời gian ngắn, nhưng điều này đã vô tình gây nên những ảnh hưởng không tốt đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.

Một nghiên cứu mới đây đã tiến hành khảo sát gần 900 trẻ em từ sáu tháng đến hai năm. Nghiên cứu đã phát hiện ra nhiều điều đáng lo ngại liên quan đến việc cho trẻ sử dụng các thiết bị điện tử quá sớm.

Các bác sĩ nhi khoa tại Bệnh viện dành cho Bệnh Trẻ ở Canada đã dẫn đầu nghiên cứu khám phá những ảnh hưởng xấu của điện thoại thông minh đối với trẻ em. Họ đã trình bày nghiên cứu tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Học thuật Nhi khoa và kết quả không làm các nhà y học ngạc nhiên.

Trẻ em dành nhiều thời gian hơn cho việc sử dụng các thiết bị cầm tay có khuynh hướng bị chậm nói, khả năng ngôn ngữ kém. Mỗi lần trẻ sử dụng 30 phút trước màn hình nhỏ, có 49% nguy cơ bị chậm phát triển khả năng ngôn ngữ.

Trong nghiên cứu, các bác sĩ nhận thấy rằng thời gian màn hình kéo dài chỉ có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng ngôn ngữ. Không có ảnh hưởng đến các kỹ năng giao tiếp khác như ngôn ngữ cơ thể hoặc tương tác xã hội.

Tiến sĩ Jenny Radesky là một trợ lý giáo sư nhi khoa về hành vi phát triển tại Đại học Michigan. Cô cũng là thành viên của Hội đồng Giám đốc Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) của hội đồng về truyền thông. Cô cho biết "Những kết quả này cho thấy là nếu cha mẹ đang cố gắng giải quyết sự phát triển ngôn ngữ của con mình bằng các ứng dụng giáo dục, có thể nó hoàn toàn không hiệu quả như cha mẹ mong muốn." Đồng thời, AAP đề xuất chống lại thiết bị cầm tay hoặc máy tính cho trẻ em dưới 18 tháng tuổi.

Vì vậy, Radesky và các chuyên gia khác của khoa nhi đều tán đồng việc cha mẹ nên cung cấp không gian cho những tương tác trực tiếp, trực diện với con cái của họ.

Kết nối với trẻ trực tiếp có thể không dễ dàng trong một thế giới ngập tràn với các phương tiện truyền thông. Mặc dù vậy, cha mẹ nên tiếp tục có sự tương tác trực tiếp với con cái của mình vì nó là thiết yếu cho sự phát triển của trẻ.

Theo theasianparent

Video xem thêm: Trong cuộc đời, điều gì mới là trân quý nhất?

[videoplayer link="https://video3.dkn.tv/trong-cuoc-doi-dieu-gi-moi-la-tran-quy-nhat_4f7ddec95.html"]

Đạo diễn Đỗ Thanh Hải được bổ nhiệm làm phó tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam

Đạo diễn Đỗ Thanh Hải được bổ nhiệm làm phó tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam https://ift.tt/3kW00z4

Đạo diễn chương trình táo quân - ông Đỗ Thanh Hải vừa được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định bổ nhiệm giữ chức phó tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.

Theo VTV News, việc ông Hải giữ chức phó tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam vừa được Thủ tướng thông qua tại Quyết định 1468/QĐ-TTg ban hành ngày 25/9/2020.

Trước khi được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Giám đốc Đài THVN, ông Đỗ Thanh Hải giữ chức Giám đốc Trung tâm Sản xuất phim truyền hình (VFC), Đài Truyền hình Việt Nam.

Ông Đỗ Thanh Hải, sinh ngày 29/4/1973, tốt nghiệp thủ khoa đại học, chuyên ngành Đạo diễn Điện ảnh năm 1996, tốt nghiệp Thạc sĩ nghệ thuật điện ảnh, truyền hình năm 2010, từng học tập và đào tạo chuyên môn về ngành truyền hình tại DW - Học viện Deutsche welle, CHLB Đức năm 2008.

Theo báo Tuổi Trẻ, sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Đài Truyền hình Việt Nam. Ông Đỗ Thanh Hải là đạo diễn có tay nghề, từng thực hiện nhiều bộ phim truyền hình được khán giả yêu thích như Xin hãy tin em, Của để dành, Phía trước là bầu trời, Nhà có ba chị em gái...

Ông Hải còn tham gia làm đạo diễn, viết kịch bản và chỉ đạo sản xuất cho các chương trình hài kịch như Gặp nhau cuối tuần, Thư giãn cuối tuần, là tổng đạo diễn và chịu trách nhiệm sản xuất các chương trình Táo quân - Gặp nhau cuối năm, Chào - VTV New Year Concert...

Theo thông tin từ Đài Truyền hình Việt Nam, hiện ban lãnh đạo đài gồm: ông Trần Bình Minh - tổng giám đốc; ông Lê Ngọc Quang - phó tổng giám đốc; bà Nguyễn Thị Thu Hiền - phó tổng giám đốc; ông Đinh Đắc Vĩnh - phó tổng giám đốc; ông Đỗ Thanh Hải - phó tổng giám đốc.

Dạo quanh châu Á khám phá văn hóa bánh Trung thu

Dạo quanh châu Á khám phá văn hóa bánh Trung thu https://ift.tt/2MrXGxS

Không chỉ Việt Nam, rất nhiều nước châu Á khác cũng coi Rằm tháng 8 Âm lịch là ngày lễ lớn quan trọng trong năm. Tùy theo phong tục tập quán, người dân mỗi nơi lại có thức bánh riêng để ăn trong ngày này.

Việt Nam - Bánh nướng, bánh dẻo

Tại Việt Nam, có 2 loại bánh Trung thu phổ biến là bánh nướng và bánh dẻo. Bánh thường có hình tròn tượng trưng cho sự đoàn viên, khát vọng hạnh phúc.

Bánh nướng bánh dẻo hay còn gọi là bánh trung thu (ảnh Baominhchau).

Xưa, bánh thường có hình bông sen in nổi với nhân đậu xanh, thập cẩm truyền thống; ngày nay, bánh Trung thu Việt Nam đã được sáng tạo với nhiều hình dạng và hương vị đa dạng.

Trung Quốc - Bánh mặt trăng

lang thang chau a kham pha van hoa banh trung thu
Bánh Trung thu của người Trung Quốc in chữ nổi với ý nghĩa tốt lành (ảnh latimes)

Bánh Trung thu của người Trung Quốc tên Yue bing (bánh mặt trăng), có nơi còn gọi là bánh đoàn viên bởi đây dịp để mọi người trong gia đình sum họp.

Bánh của người Hoa cũng có hình tròn, nhân bánh phong phú với đủ loại đậu xanh, đậu đỏ, khoai môn, trà xanh, thịt quay, xá xíu… Ngày nay, nhân bánh Trung thu ở Trung Quốc còn được làm từ sô cô la, kem và phô mai. Hình thức bánh cũng phong phú hơn với hình vuông, hình con vật... và bề mặt thường in chữ với ý nghĩa tốt lành.

Hàn Quốc - Bánh Songpyeon (Bánh trăng khuyết)

lang thang chau a kham pha van hoa banh trung thu
Bánh Trung thu nhiều màu sắc hình bán nguyệt. (Ảnh: beemart)

Tết Trung thu hay còn được gọi là Chuseok, là ngày lễ lớn trong năm ở Hàn Quốc. Trong dịp này, người ta làm món bánh truyền thống, gọi là Songyeon hay còn gọi là bánh gạo hình bán nguyệt.

Nếu như ở Việt Nam và Trung Quốc, bánh Trung thu tròn tượng trưng cho sự viên mãn thì chiếc bánh của Hàn Quốc lại mang hình bán nguyệt. Người Hàn Quốc quan niệm, trăng khi tròn khi khuyết giống như cuộc đời của con người, luôn biến đổi để đạt đến độ hoàn mỹ.

Loại bánh này không chỉ có màu trắng, người ta còn biến tấu Songyeon với nhiều màu sắc như hồng từ quả dâu, vàng từ bí đỏ, xanh từ lá ngải…

Nhật Bản - Bánh Tsukimi Dango

Bánh Tsukimi Dango thường được vẽ mặt thỏ (ảnh shonan).

Bánh Trung thu ở Nhật Bản là Tsukimi Dango (thường gọi là Dango), một loại bánh làm từ bột gạo với nhiều hình dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là hình tròn.

Trong truyền thuyết của đất nước “mặt trời mọc”, thỏ ngọc sống trên mặt trăng và giã bánh dày. Vì vậy, người Nhật tin rằng nếu ăn bánh Tsukimi Dango vào ngày trăng rằm tháng 8 có thể nhìn thấy thỏ ngọc.

Singapore - Bánh dẻo nhân sầu riêng

lang thang chau a kham pha van hoa banh trung thu
Bánh Trung thu Singapore biến tấu với nhiều hương vị khác nhau. (Ảnh: beemart)

Bánh dẻo nhân sầu riêng là loại bánh Trung thu mang bản sắc của Singapore. Hầu hết người dân ở đây đều thích hương vị của loại bánh này.

Bánh Trung thu Singapore không chỉ có các loại nhân sầu riêng, kem, tổ yến, trà xanh, phô mai tươi… mà còn có nhiều biến thể như bánh dẻo tuyết, bánh dẻo lạnh…

Philippines - Bánh hopia

lang thang chau a kham pha van hoa banh trung thu
Bánh đơn giản nhưng hấp dẫn. (Ảnh: bookatrip)

Bánh Trung thu truyền thống của Philippines có tên là hopia. Đây là loại bánh nướng đơn giản, không nhiều màu sắc hay hoa văn cầu kỳ nhưng lại gây chú ý bởi phần nhân hấp dẫn.

Phần bột bên ngoài xếp thành từng lớp, khi bẻ đôi để lộ phần nhân có thể là đậu xanh, đậu đỏ, khoai lang tím hay thịt lợn.

Video xem thêm: Trong cuộc đời, điều gì mới là trân quý nhất?

[videoplayer link="https://video3.dkn.tv/trong-cuoc-doi-dieu-gi-moi-la-tran-quy-nhat_4f7ddec95.html"]

Hôn nhân chính là trường tu luyện của đời người

Hôn nhân chính là trường tu luyện của đời người https://ift.tt/2XV7S9k

Có thể nói đắng cay, vấp ngã chính là vị thầy nuôi ta khôn lớn, chúng ta chỉ có thể trưởng thành khi đã nếm đủ gió sương. Và trong tình yêu, hôn nhân cũng lại như thế, chỉ có sống cùng nhau, có trải qua quan ải, mới dần hiểu nhau hơn, yêu thương và gắn bó...

Nhiều người cho rằng hôn nhân là bến ga cuối của tình yêu, tuy nhiên theo tôi nhìn nhận thì đó mới chỉ là khởi đầu của con đường mới, hai người cùng nhau đi trên một chặng đường hoàn toàn mới. Trước đây, tình yêu đôi lứa khi chưa lấy nhau, đó là chặng đường chỉ có hoa hồng và mật ngọt, hai người đối với nhau bằng sự nồng cháy, khát khao và cả sự lãng mạn dành cho nhau. Tuy nhiên khi đã đến với nhau bằng hôn nhân, đó lại là con đường mà hai người phải đối với nhau bằng lòng vị tha, bằng nhân cách, bằng sự tu dưỡng của chính mình.

Hôn nhân chính là trường học của lòng vị tha

Cổ ngữ có câu: “Đẹp đẽ khoe ra, xấu xa đậy lại", khi hai người còn nhà ai người đấy ở, áo ai người đấy giặt, cơm ai người đấy ăn, thì phần lớn những khiếm khuyết đều được che đậy cũng như được bỏ qua bằng tình yêu cháy bỏng. Tuy nhiên khi bước chân vào hôn nhân cũng là lúc hai người dần dần bộc lộ những khiếm khuyết của mình cho đối phương thấy.

Chàng đã không còn là hoàng tử hào hoa phong nhã, áo quần bảnh bao, người thơm tóc mượt. Nàng lúc này cũng không còn là tiểu thư dịu dàng, váy đầm tinh tế, dịu dàng thướt tha nữa. Hai người đã hoàn toàn khác hẳn. Có không ít cặp vợ chồng sau khi lấy nhau về đã bị ‘sốc’ khi chứng kiến những khiếm khuyết của đối phương. Lúc này nếu như hai người có thể rộng lòng vị tha mà bỏ qua cho nhau thì mọi chuyện cũng sẽ dần êm xuôi. Nhưng nếu như tình yêu không đủ lớn, sự dung hòa chưa đủ nhiều thì đây rất có thể lại trở thành điểm khởi mào cho những xung đột về sau.

Hôn nhân chính là trường học của lòng bao dung

'Nhân vô thập toàn, vật vô thập mỹ', ai cũng mong có được một cuộc hôn nhân hoàn mỹ, một duyên phận vẹn toàn, nhưng đó là điều không thể. Học cách bao dung chính là con đường ngắn nhất dẫn đến bến bờ hạnh phúc.

Vì sao nói người đại trí thường hay sống hồ đồ? Chính là bởi họ hiểu rằng vạn vật trên đời có mất ắt được, mọi sự đều có căn duyên, đôi khi hồ đồ một chút lại hoá hay, cuộc sống mới hạnh phúc, lòng mới thanh thản. Khi cần cũng nên mắt nhắm mắt mở mà bỏ qua một số chuyện, còn việc gì cũng soi mói khắt khe thì chỉ tự chuốc khổ vào thân.

Vậy nên hôn nhân muốn có hạnh phúc thì hai người phải học cách bao dung, xem nhẹ những điều không cần thiết. Có như vậy cuộc sống vợ chồng mới êm đềm thoải mái.

Hôn nhân chính là trường tu dưỡng tốt nhất của con người thế gian

Nhiều người trải qua bao nhiêu sóng gió, bước vào tuổi trung niên mới dần dần ngộ ra được một điều: “Bạn đời chính là quý nhân tốt nhất của mình”. Có rất nhiều cuộc hôn nhân đều trải qua một tiến trình như sau: 3 năm đầu, chàng yêu nàng, nàng thương nhớ chàng; 3 năm sau vợ giận chồng, chồng giận vợ; 3 năm tiếp nữa, vợ chồng không ngừng oán trách lẫn nhau. Cuối cùng mới dần dần bao dung được những khiếm khuyết của đối phương.

Vậy nên cũng có thể nói, hôn nhân chính là trường tu luyện của đời người, giúp chúng ta trưởng thành hơn, hoàn thiện hơn về phẩm chất, nhân cách. Hôn nhân cũng có thể chia thành hai giai đoạn, trước và sau. Trước là thời kỳ trẻ trung, sau là khi bước vào tuổi trung niên. Tuổi trẻ thì vợ chồng hiếu thắng, tranh cãi ngược xuôi, chỉ cho mình là nhất.

Mãi đến khi bước vào tuổi trung niên, con người ta mới dần dần ngộ ra, làm người thì không nên hiếu thắng, không nên tranh cãi, đặc biệt với người thân của mình, im lặng mới chính là cảnh giới tối cao của bản lĩnh. Vậy nên cũng nói hôn nhân khi bước vào tuổi trung niên mới dần sinh ra trí huệ.

Trong cuộc sống hôn nhân, có một điều rất quan trọng, đó là “Chấp nhận thực tế". Khi đối phương có những điều dù chết cũng chẳng thế sửa đổi, khi đó bạn chỉ có cách chấp nhận mà dung hòa. Cuộc sống nếu như không có những đêm lệ rơi ướt gối, không có những lần thất vọng bi thương, không có những lần quan nạn vây quanh, thử hỏi sức dài vai rộng thanh niên chúng ta sao có thể chấp nhận dung hoà, sao có thể chấp nhận trầm lắng?

Từng có người nói rằng: “Tôi kiếm tiền giỏi như vậy, tài khoản ngân hàng hiện giờ đủ cho tôi sống thoải mái cả đời, năm đi du lịch vài lần nước trong nước ngoài. Vậy tôi còn cần bạn trai làm gì, tại sao tôi lại cần phải kết hôn để rồi phải làm việc của cả hai người, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, đã thế lại còn suốt ngày cãi nhau?”.

Tuy vậy, hôn nhân hạnh phúc nhất không phải là tìm được người yêu mình bao nhiêu mà là tìm được một người khi về già có thể nói chuyện với mình nhiều bao nhiêu. Con người ta khi đến một giai đoạn nào đó sẽ hiểu ra rằng, hôn nhân không phải là tìm cho mình một chỗ dựa, mà là tìm cho mình một hoàn cảnh trưởng thành, tìm cho mình một người bạn lúc chiều tà bóng xế.

Con người sinh ra, lấy vợ gả chồng, ai rồi cũng bước vào hôn nhân, ai sớm học được thứ tha người đó sớm được hạnh phúc. Thứ tha ở đây cũng không phải yếu nhược, mà đó là trí huệ trưởng thành. Kỳ thực hôn nhân như cũng như ly rượu, rượu không nồng sao khiến kẻ uống say, tình không trắc trở sao khiến đời người trọn vẹn!

Minh Vũ

[videoplayer link="https://video2.dkn.tv/bi-quyet-giu-lua-cua-gia-dinh-viet-kieu-y_a5781c614.html"]

Nhanh là hiệu suất nhưng chậm mới là trí huệ

Nhanh là hiệu suất nhưng chậm mới là trí huệ https://ift.tt/2Uw1Cmi

Cuộc sống xô bồ, dòng đời đưa đẩy, đôi khi khiến chúng ta cuốn theo nhịp sống vội vàng tự lúc nào không hề hay biết. Tuy nhiên phần lớn người thành công, người có trí huệ lại thường có chung một đặc điểm, họ sống rất chậm.

Những người thành công có thân thủ mau lẹ, tính toán chớp nhoáng, họ luôn nắm bắt được đúng thời điểm, đúng thời cơ… Chúng ta thường nhận định họ là những người trí tuệ thông minh trời phú, là những người chỉ có thể ngưỡng mộ chứ không thể học theo. Có người cho rằng họ là những người có gia cảnh tốt hoặc có người chống lưng tương trợ nên thành công cũng là lẽ thường tình. Tuy nhiên, nếu như bạn chú tâm quan sát sẽ phát hiện rằng họ lại thường là những người trầm lắng, sống chậm rãi.

Trước đây tôi từng hỏi một vị doanh nhân rằng bí quyết thành công của anh là gì? Người này đáp: “Hãy học lạc đà, chịu được gió, trụ được sương, chúng không khi nào vội vã, từ từ đi, từ từ nhai, cuối cùng đi đều đến đích, ăn đều được no”.

Trong một xã hội mà đại đa số con người đều theo đuổi tốc độ, theo đuổi hiệu suất, có lẽ rất ít người có thể nói rằng bản thân mình có thể sống chậm rãi, không vội vàng, có thể tĩnh tâm bình thản mà chuyên tâm làm một việc nào đó. Phần lớn chúng ta đều có tâm lý lo sợ mình lạc hậu, bị những người xung quanh vượt hơn, sợ xã hội ruồng bỏ, vậy nên đều sống trong vội vàng, sống trong theo đuổi. Ngược lại chúng ta lại quên mất rằng, chỉ có sống trong thư thái chậm rãi mới giúp người ta sinh ra trí huệ, mới có thể làm chủ được thời gian, nắm bắt cơ hội.

Nhanh là hiệu suất, chậm là trí huệ

Mỗi chúng ta đều đang truy cầu hạnh phúc, tuy nhiên hạnh phúc chỉ mỉm cười với những ai có tâm hồn phong phú và biết sống chậm rãi. Franklin - một trong những người thành lập đất nước nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ từng làm một thí nghiệm gọi là “Nguyên tắc 5 giờ". Mỗi ngày từ thứ 2 đến thứ 6, ông đều dành riêng cho bản thân 1 giờ đồng hồ, cho dù có bận rộn tới đâu cũng kiên trì cho mình thời gian 1 giờ nghỉ ngơi không làm gì cả. Và cũng chính trong khoảng thời gian 1 giờ “lười biếng" này đã đem lại cho ông sự sáng tạo, hiệu suất công việc cao nhất, giúp ông có được đầy đủ tinh lực và trí huệ gây dựng một sự nghiệp vĩ đại cho nước Mỹ.

Có người nói ‘nhanh là hiệu suất nhưng chậm mới là trí huệ’, bởi con người ta sống quá nhanh cũng sẽ dễ oán giận, dễ nổi nóng và để rồi cũng dễ đánh mất chính mình. Công việc, đó là cuộc sống, nhưng chúng ta lại không thể chỉ sống vì công việc. Công việc chỉ là phương tiện chứ không phải là tất cả. Đời người, sống chính là để tìm chính mình, tìm cho mình ý nghĩa kiếp nhân sinh, vậy nên sống chậm lại mới thấy được mình là ai, mình khác gì với họ. Thành công không thể có được nhờ nhanh chân khéo tay mà là nhờ trí huệ.

Sinh thời nhà văn Kim Dung cũng từng nói: “Tính cách tôi rất chậm chạp, làm gì cũng không vội, làm gì cũng chậm rãi hoà hoãn nhưng cuối cùng mọi việc cũng đều xong, đều làm được tốt. Làm người, chúng ta không thể cưỡng cầu người khác coi trọng từng tý sự nỗ lực của mình. Điều chúng ta có thể là âm thầm cố gắng, đem sự nỗ lực của mình kết lông vũ, đến một ngày sẽ thành đôi cánh đưa chúng ta bay cao, bay xa, khi ấy ai cũng phải ngước nhìn”.

Chúng ta không thể cưỡng cầu người khác coi trọng từng tý sự nỗ lực của mình. Điều chúng ta có thể là âm thầm cố gắng, đem sự nỗ lực của mình kết lông vũ, đến một ngày sẽ thành đôi cánh đưa chúng ta bay cao, bay xa, khi ấy ai cũng phải ngước nhìn.

Khi chúng ta buông đi sự xô bồ của cuộc sống, chuyên tâm làm việc, đến một ngày sẽ phát hiện niềm vui của sự nỗ lực.

Người âm thầm làm việc mới là người có trí huệ.

Chỉ cần bạn không ngừng cố gắng chuyên tâm làm việc, sống chậm rãi, bạn sẽ tìm ra giá trị của chính mình. Cho dù trong cuộc sống hay trong công việc, chỉ cần có thể buông bỏ những truy cầu, tĩnh tâm làm điều cần làm, khi đó thành công sẽ mỉm cười với bạn, trí huệ cũng sẽ không ngừng soi sáng con đường bạn đi.

Sống thư thái, buông bỏ càng nhiều sẽ được càng nhiều, truy cầu càng nhiều thì mất cũng càng nhiều hơn.

Theo Cmoney
Minh Vũ biên dịch

[videoplayer link="https://video3.dkn.tv/nguoi-tri-tue-biet-tran-quy-biet-buong-tay-biet-chuyen-huong_24ec5f84e.html"]

Chuyện ‘Vong báo oán’, luật Nhân Quả và lời dạy của Đức Phật

Chuyện ‘Vong báo oán’, luật Nhân Quả và lời dạy của Đức Phật https://ift.tt/2HAud6X

Trong Phật giáo có câu chuyện kể rằng, Tôn giả Mục Kiền Liên vì muốn cứu ngạ quỷ đã phải dựa vào uy đức rất nhiều cao tăng. Nhưng ngày nay có những người xưng là ‘thầy’ này, ‘cậu’ nọ, ‘cô’ kia, chẳng cần khổ nhọc tu hành sao lại có thể sai khiến được quỷ Thần?

Chuyện một ngôi chùa nọ truyền bá “Vong báo oán” và cúng vong, giải nghiệp kiếm hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, thiết nghĩ đã có các cơ quan có trách nhiệm vào cuộc. Tuy nhiên hiện nay, nhiều nơi thờ tự của cá nhân và tổ chức cũng đang tiến hành những việc như cầu hồn, gọi vong, dâng sao giải hạn, giải nghiệp tiêu tai, cầu phúc cầu bình an…  

Vậy tại sao lại nở rộ những sự việc này? Việc ấy đúng sai thế nào, lý lẽ ra sao, có tác dụng như thế nào, có hại gì không…? Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều người. Người viết mạn phép góp đôi lời về vấn đề này theo thiển nghĩ nông cạn của bản thân.

Vong là gì?

“Vong” là từ Hán Việt, chữ Hán viết “亡” nghĩa là ‘mất, chết’ như trong các từ diệt vong, vong linh. Trong cụm từ ‘vong báo oán’, chữ vong nghĩa là vong linh, vong hồn, tức là linh hồn người đã khuất.

Hiện nay khoa học dù chưa chứng minh được nhưng cũng không phủ nhận sự tồn tại của vong, vì có rất nhiều trường hợp cận tử đã nói về trải nghiệm khi linh hồn thoát xác.

Còn các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian thì đều tin là con người có tồn tại linh hồn, linh hồn bất diệt. Theo quan điểm Phật gia, sau khi nhục thân chết đi thì linh hồn sẽ tùy theo nghiệp lực mang theo mà sinh vào một trong sáu đạo luân hồi sau: Cõi Trời (deva), cõi A Tu La (asura), cõi người (manussa), cõi súc sinh (tiracchānayoni), cõi ngạ quỷ (petta), cõi địa ngục (niraya).

Cũng theo quan điểm Phật gia thì thông thường sau khi chết, trong vòng 49 ngày linh hồn người quá cố (Phật giáo gọi là 'thân trung ấm') sẽ đầu thai luân hồi chuyển thế. Khi chưa chuyển thế thì linh hồn vẫn còn lưu luyến duyên trần. Đó cũng chính là lý do vì sao có tục cúng 3 ngày, 7 ngày, 49 ngày, 100 ngày. Khi con người đã đầu thai sang kiếp khác rồi thì không còn tồn tại linh hồn, nên ‘vong’ lúc này cũng không còn tồn tại.

Văn hóa truyền thống tin rằng con người là có định số. Phật gia cũng cho rằng một đời người là đã được định trước, con đường nhân sinh chính là như thế, tuy nhiên cũng có yếu tố bất định. Khi một sinh mệnh chưa đi hết đường đời đã định nhưng lại bị giết hại oan uổng, thì sinh mệnh này chưa thể đầu thai luân hồi được. Những linh hồn ấy lang thang chờ đợi, có thể vài năm, vài chục năm hoặc lâu hơn. Đây chính là ‘cô hồn dã quỷ’ được nói đến trong Phật giáo. Có lẽ đây cũng chính là ‘vong’ trong tín ngưỡng dân gian. Vì thế rằm tháng 7 được gọi là ngày “Xá tội vong nhân”, chính là cúng những ‘cô hồn dã quỷ’ này, cúng siêu độ để giúp vong linh sớm siêu thoát đầu thai.

Chuyện ‘vong báo oán’ có hay không?

Phật gia giảng nhân quả báo ứng, tức là mỗi việc làm thiện ác sẽ tạo ra đức và nghiệp tương ứng, khi chết rồi chuyển sinh vào lục đạo thì tùy theo đức và nghiệp mà có phúc họa nhiều hay ít. Thế nên nói, con người sinh ra là đã có mệnh, chính là đức và nghiệp mang theo sẽ quyết định đường đời của họ. Tuy nhiên sau khi sinh ra, những hoạt động của người này cũng tạo ra đức mới khi làm việc tốt và nghiệp mới khi làm việc xấu.

Cổ nhân nói ‘hành thiện tích đức được phúc báo’, hay ‘chịu khổ là trả nợ nghiệp’. Trong Kinh Dịch cũng viết: “Nhà tích thiện thì dư phúc lành, nhà tích bất thiện thì thừa tai ương” (Nguyên văn: “Tích thiện chi gia hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia hữu dư ương”). Thế nên tất cả chính giáo cũng như các tín ngưỡng truyền thống đều khuyên con người hành thiện tránh làm ác.

Nhân loại sống chính là tạo nghiệp và hoàn trả nợ nghiệp. Đức Phật dạy con người làm việc thiện để tránh tạo nghiệp, và chịu khổ để hoàn trả nghiệp. Phật Đà thần thông quảng đại nhường ấy, Ngài chỉ cần phẩy tay là có thể tiêu tai giải nạn cho con người thế gian. Nhưng tại sao Ngài không phát tâm trừ bỏ hết thảy nghiệp lực cho chúng sinh? Chính là bởi vì Ngài cũng tôn trọng luật Nhân Quả, vốn là quy luật của vũ trụ. Thế nên mới có việc Phật Thích Ca từng thấy trước dòng họ Thích Ca bị tiêu diệt mà chẳng thể can thiệp.

Các cõi khác nhau đều có quy luật vũ trụ tại các tầng thứ khác nhau chế ước, không thể tùy tiện can thiệp được. Thế thì một vong linh nhỏ bé, một ‘cô hồn dã quỷ’ đang vất vưởng chờ đợi về nơi trở về kia, sao có thể làm được ‘vong báo oán’ đây? Nếu quả thực vong đó bị giết hại oan uổng thì kẻ sát nhân kia đã tạo nghiệp lực rất to lớn. Vong linh vẫn chưa siêu thoát kia có thể vẫn tức giận kẻ giết hại mình, thì cái nghiệp do tức giận gây ra sẽ cấp thêm lên kẻ sát hại. Khi nghiệp lực lớn đến một mức độ nhất định thì sẽ xảy ra các tai nạn như ốm đau bệnh tật, tiêu tán tiền tài, nặng hơn nữa là mất đi sinh mạng. Đó hoàn toàn là luật Nhân Quả báo ứng khống chế chứ không có chuyện ‘vong báo oán’ bằng cách nhập hồn điên đảo, tác oai tác quái, gây bệnh gây họa… đến mức phải ‘chuyển khoản’ cho vong thì vong mới chịu ngừng.

Chuyện ‘gọi hồn’, ‘vong nhập’ thì thế nào?

Cũng có người nói rằng, họ đã chứng kiến chuyện gọi hồn, vong nhập, rồi chuyện thầy này cao tay, cô kia linh nghiệm, hay Thần này, Thánh kia nhập vào người nào đó, v.v.

Thế gian dưới con mắt chư Thần là cõi ô uế dơ bẩn, hồng trần cuồn cuộn, nghiệp lực đen thui, trong khi Thần Thánh là sinh mệnh cao cấp, ngự trong những thế giới tinh khiết và long lanh như châu ngọc. Thế nên mới gọi cõi Phật là Tịnh Thổ - Cõi Tinh Khiết. Thần Phật muốn đến chốn nhân gian thì cũng phải giáng sinh hạ phàm như Đức Phật Thích Ca, Chúa Jesus, rồi lại phải trải qua tu luyện gian khổ mới quay trở về nơi thượng giới. Thế thì làm gì có chuyện Thần Thánh nhập vào người phàm tục đầy rẫy tham sân si, đầy rẫy các chủng dục vọng ham muốn và những toan tính bẩn thỉu nhơ nhớp kia được? Chỉ có những bậc chân tu đắc Đạo và những bậc đại đức, tâm trong sạch tinh khiết, không mưu cầu danh-lợi-tình-tiền thì mới có thể linh ứng đến Thần Phật. Họ là những cao tăng, đại sư, hay các nhà tiên tri như chúng ta đã biết.

Còn chuyện gọi hồn, vong nhập thì thế nào? Chuyện này có lẽ rất hiếm có, và chỉ trong trường hợp đặc biệt ví như có duyên nợ, và bản thân người bị nhập cũng là bệnh nhân nặng, thể trạng yếu ớt, tinh thần yếu đuối, hốt hoảng tỉnh tỉnh mê mê. Người tin khoa học thì cho rằng đó là họ bị hôn mê thần hồn điên đảo, còn người theo Thần học thì tin là nhập hồn. Nhưng hiện tượng này rất hiếm, và có xảy ra thì cũng rất ngắn, thường là ‘vong’ vì muốn truyền một thông điệp nào mà lúc họ chết vẫn chưa hoàn thành, và thường là khuyến thiện.

Như đã nói trên, sau khi con người chết, linh hồn đã đầu thai sang kiếp khác rồi thì chẳng còn nhớ được các tiền kiếp, cũng chẳng có khả năng thoát xác, trừ trường hợp cận tử, hoặc tu luyện có thành tựu. Thế nên, về căn bản là không có chuyện nhập hồn. Thế thì vì sao vẫn có người chứng kiến chuyện nhập hồn? Kỳ thực đó không phải ‘hồn nhập’ hay ‘vong nhập’, mà là do có mang tâm truy cầu rất lớn, như cầu danh lợi, cầu tình tiền, cầu tiêu tai giải hạn...nên mới khiến những linh thể tầng thấp ở không gian khác nhập vào.

Những linh thể ấy ở không gian khác, không phải là cõi mê của nhân loại nên nó có thể nhìn thấy một số điều như quá khứ của một người nào đó, rồi kể ra rành rọt, khiến người ta tin là ‘hồn nhập’. Vì nó ở tầng rất thấp nên mới thích được người ta cúng rượu, thịt, thuốc lá, tiền, vàng, hương khói… Nó cũng có chút năng lượng có thể ức chế bệnh tật khiến người ta lầm tưởng rằng bệnh đã được chữa khỏi, từ đó lại càng có nhiều người tin theo và thờ cúng nó. Nó cũng tự xưng là Thần nọ Thánh kia, là Người Trời, là Phật… để người ta tin theo, thờ cúng sùng bái mình. Thực ra là chỉ ức chế bệnh thôi, sau một thời gian bệnh lại phát ra. Loại này rất nguy hiểm, nó hút tinh khí của người. Thế nên những kẻ xưng là ‘thầy’ kia, ‘cậu’ nọ, sau một thời gian chuyên đi chữa bệnh cho người lại thường gặp những chuyện không hay. Có người nói là vì họ ‘tiết lộ thiên cơ’ nên bị trừng phạt. Thực ra, là do họ tự chiêu mời linh thể tầng thấp đến, tự mình hại mình mà thôi.

Có thể đuổi vong trừ tà không?

Với chính nhân quân tử, trên thân đầy chính khí thì chẳng ma tà quỷ quái vong hồn nào nhập vào được. Người xưa nói: “Nhất chính áp bách tà”, hay “Ma quỷ cũng sợ người chính trực”, hoặc là “Người không làm chuyện trái lương tâm, nửa đêm không sợ quỷ gõ cửa” chính là đạo lý đó.

Thế nên, nếu làm người chính trực, thiện lương, không trái với lương tâm thì không thể bị ‘vong nhập’. Còn những ai đã lỡ làm chuyện xấu, hành ác thì có thể thông qua hối lỗi, tu thân tích đức, bỏ ác theo thiện, tự kiểm điểm từng hành vi, suy nghĩ của mình trong đời sống thường nhật thì sẽ ‘hóa hung thành cát’, ‘biến nguy thành an’. Còn những kẻ đã làm nhiều việc xấu, việc đại ác mà vẫn không biết sám hối, không biết hướng thiện, thì khi nghiệp lực tích tụ nhiều lên sẽ phát ra thành tai họa như ốm đau, bệnh tật, tai nạn, thậm chí mất mạng. Những người như thế thì cầu Trời khấn Phật, cúng thầy nọ cô kia, lễ đền này chùa nọ cũng đều vô ích, bởi vì “thiện có thiện báo, ác có ác báo, không phải không báo mà là chưa đến lúc”.

Chúng ta có thể thấy trong câu chuyện cổ Phật giáo, Tôn giả Mục Kiền Liên là đệ tử “đệ nhất thần thông” của Phật Thích Ca. Ngài dùng thần thông nhìn thấy mẹ mình phải đọa vào đạo ngạ quỷ, chịu đói khát khổ sở hành hạ. Ngài đem thức ăn cho mẹ nhưng bà vừa đưa lên miệng thì thức ăn biến thành lửa thiêu đốt. Bất lực, Ngài thỉnh cầu Đức Phật. Theo lời Phật dạy, vào ngày 15 tháng 7 âm lịch, tôn giả Mục Kiền Liên và các tăng nhân dùng trăm loại thức ăn gồm ngũ quả, đồ cúng chay để cúng chúng sinh ở địa ngục, rồi cùng tăng đoàn đọc kinh, niệm chú. Nhờ vậy những ngạ quỷ đói khát lâu ngày kia mới được ăn. Nhờ tích đức của chúng tăng nên Mục Kiền Liên mới cứu được mẹ ra.

Qua câu chuyện trên có thể thấy, để ‘cứu ngạ quỷ’ còn cần phải hợp đức của một tập thể gồm rất nhiều cao tăng. Thế thì một người xưng là ‘thầy’, ‘cô’, ‘cậu’ kia, chẳng hiểu công phu tu hành đến đâu mà có thể sai khiến quỷ Thần?

Thật và giả, thiện và giả thiện, chính và tà

Nước ta vốn có nền văn hiến lâu đời, từ hàng ngàn năm nay người dân vẫn luôn tin ‘ở hiền gặp lành’, ‘ác giả ác báo’, ‘cha mẹ hiền lành để phúc cho con’, ‘đời cha ăn mặn đời con khát nước’. Cội nguồn văn hóa truyền thống với trung tâm là Tam Giáo: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian luôn coi trọng việc thờ cúng ông bà tổ tiên, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, biết ‘uống nước nhớ nguồn’, ‘ăn quả nhớ người trồng cây’. Trong đó Phật giáo du nhập vào nước ta sớm nhất, cách đây trên 2000 năm, trước cả Phật giáo Trung Quốc, nên cũng có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng của người dân.

Thế nên truyền thống tín ngưỡng kính Trời, kính Phật, thờ Thần đã ăn sâu vào dòng máu Việt. Tuy nhiên đã có chính thì có tà, đã có Phật thì có ma, đã có người thì có quỷ, đã có chính đạo thì có tà đạo, đã có chánh kiến thì có tà kiến, đã có quân tử thì có tiểu nhân, đã có người xả thân vì nước thì cũng có kẻ bán nước cầu vinh, đã có người vì nghĩa quên thân thì cũng có kẻ vì tiền tài mà mờ mắt.

Xã hội nhân loại vốn thế, con người sống trong cõi mê, thật giả lẫn lộn, chỉ có thể dựa vào lý trí tỉnh táo mới phân biệt được. Vì cái giả thiện nói giống như cái thiện nên mới lừa được người ta. Ví như một việc có trăm điều thì 99 điều thiện và trộn 1 điều giả thiện vào thì việc đó vẫn là ác. Tại sao? Cũng giống như một nồi canh thơm ngon, toàn thứ tốt lành cả, nhưng đổ một thìa thuốc độc vào thì nó chính là nồi thuốc độc. Nồi canh độc đó, mặc dù trông vẫn là nồi canh, nếm vẫn thơm ngon, nên mới lừa được người ăn, mà ăn vào trúng độc, tàn hại biết bao nhiêu người.

Trước khi niết bàn, Đức Phật Thích Ca căn dặn các đệ tử rằng: “Dĩ giới vi sư”, nghĩa là hãy lấy giới luật làm thầy. Có lẽ Ngài biết rõ rằng sau khi Ngài niết bàn thì có những người hoặc vô tình, hoặc cố ý mà làm loạn Pháp. Một trong những điều giới luật đó là “không tồn tiền, tồn vật”. Thế nên, những người tu hành theo pháp môn của Phật mà không làm theo lời Phật, cúng bái, dâng sao giải hạn, tiêu tai trừ tà để kiếm tiền ‘cúng dường’ thì có thực sự là đệ tử của Phật không? Do đó chân tu, giả tu có thể phân biệt được.

Sau khi Đức Phật nhập niết bàn khoảng 300 năm là thời đại vua A Dục. Khi đó Phật giáo rất phát triển, dân chúng cúng dường nhiều, rất nhiều tín đồ các tôn giáo khác vì tham cúng dường nên đã tự xưng là tăng nhân Phật giáo, trà trộn lẫn vào trong tăng đoàn. Họ coi thường giới luật, vượt khỏi quy phạm của tăng đoàn, đồng thời thường đưa ra kiến giải của bản thân đối với Pháp và giáo nghĩa của Phật giáo. Vua A Dục cùng các cao tăng thanh lọc những người này, nhưng vẫn còn khoảng 300 người giỏi biện luận, thuộc kinh sách, không cách nào đuổi đi được. Đó cũng là ý nghĩa câu nói trong dân gian: “Chiếc áo không làm nên thầy tu”. Nếu không tu cái tâm, buông bỏ những danh vọng, địa vị, chức quyền, tiền tài, và những lời tán dương chốn thế tục thì thiên kinh vạn điển cũng chỉ là hư giả.

Thời còn tại thế, để giúp các đệ tử phân biệt chính đạo với tà đạo, Đức Phật giảng trong Kinh Tăng Chi Bộ rằng:

“Đừng tin tưởng vào một điều gì vì phong văn. Đừng tin tưởng điều gì vì vin vào một tập quán lưu truyền.

Đừng tin tưởng điều gì vì cớ được nhiều người nói đi nhắc lại. Đừng tin tưởng điều gì dù là bút tích của Thánh nhân.

Đừng tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận là điều ấy đúng.

Đừng tin tưởng điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta.

Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào uy tín của các thầy dạy các người.

Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí quở trách; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời hãy từ bỏ chúng.

Nhưng chỉ tin tưởng cái gì mà chính các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là đúng, có lợi cho mình và người khác. Chỉ có cái đó mới là đích tối hậu thăng hoa cho con người và cuộc đời. Các người hãy lấy đó làm chỉ chuẩn”.

Xưa thầy trò Đường Tăng đi Tây Thiên thỉnh kinh, các đồ đệ đều thần thông quảng đại mà còn đi nhầm vào chùa Tiểu Lôi Âm. Thế nên người tín Phật chỉ có thể chiểu theo lời dạy của Đức Phật thì mới phân biệt được chân tu với giả tu, chính đạo với tà đạo, chùa Lôi Âm thật và Lôi Âm giả, từ đó bước đi cho chính trên con đường hướng tới tương lai của mình, tránh bị cái giả thiện lừa gạt để rồi phải ôm nỗi hận thiên thu.

Bạch Nhật


[videoplayer link="https://video3.dkn.tv/di-chua-online-rot-cuoc-ngoi-chua-nao-moi-co-phat-day_e10be2d3b.html"]

Người ở tầng thứ cao thường có 7 đặc điểm này, bạn được bao nhiêu?

Người ở tầng thứ cao thường có 7 đặc điểm này, bạn được bao nhiêu? https://ift.tt/2XQ1bUy

Người tầng thứ thấp thì khiến người khác cảm thấy như hóc xương trong cổ họng, còn người có tầng thứ cao thì khiến người khác cảm thấy như ngụp lặn trong làn gió xuân.

Một người có tầng thứ cao hay thấp hoàn toàn không liên quan đến trình độ học vấn, tài sản và địa vị xã hội của họ, mà chỉ liên quan đến tầm nhìn, tu dưỡng và nhân cách của họ mà thôi.

Một người có tầng thứ cao thường có 7 đặc điểm sau:

1. Thành tựu lẫn nhau

Mặc Tử nói: “Tương thân tương ái rộng khắp, bạn bè giúp ích làm lợi ích lẫn nhau”.

Một người có tầng thứ thấp đa phần chỉ chăm chú vào lợi ích trước mắt, so đo tính toán đối với những gì mình bỏ công sức ra, xem có được gì không, thu lợi gì không, có tương xứng với công sức bỏ ra không. Thế nên con đường họ đi càng ngày càng chật hẹp.

Ngược lại, thành tựu người khác lại là tâm thái, cảnh giới và nhân cách của một người có tầng thứ cao. Trong cuộc đời chúng ta, ngoài việc “thắng người khác, hơn người khác”, “áp đảo người khác”, “vượt trội hơn người khác” ra thì thực tế còn có thể “thành tựu người khác”.

Con người là quần thể tương trợ hỗ trợ lẫn nhau, cũng chỉ có “thành tựu lẫn nhau” mới có thể có được biển rộng trời cao.

2. Thích đọc sách

Tương lai của một người sẽ trở thành như thế nào thì yếu tố then chốt là trong đầu họ chứa đựng những gì.

Có một người thỉnh giáo một đại sư, đại sư chỉ nói một câu: “Vấn đề của anh là ở chỗ đọc sách quá ít và nghĩ ngợi quá nhiều”.

“Lòng có thi thư khí chất tự hào hoa”, một người thích đọc sách thì khí chất tự nhiên sẽ xuất chúng.

Hoàn Sơn Cốc - một đại sư thư pháp, văn học và chính trị đời Bắc Tống có nói: “Người không đọc sách thì trần tục sinh ra, soi gương thì thấy diện mục đáng ghét, nói chuyện với người thì ngôn ngữ vô vị”.

Một nhà văn lớn có nói: 'đọc sách và không đọc sách là 2 loại cuộc đời khác biệt'.

3. Khoan dung độ lượng

Trong truyện ngụ ngôn Ê-dốp có viết, khi Prometheus phụng mệnh Thần Zeus tạo ra con người, ông đã cố ý treo trên mỗi người 2 cái túi: Cái túi phía trước ngực đựng khuyết điểm của người khác, cái túi ở sau lưng đựng khuyết điểm của mình.

Người tầng thứ thấp thì mãi mãi chỉ thấy được cái túi treo trước ngực. Muốn thấy được cái túi phía sau, duy chỉ có nâng cao tầng thứ của mình. Người chỉ thấy khuyết điểm của người khác thì trong lòng đầy khắt khe bạc bẽo. Chỉ có người nào nhìn thấy khuyết điểm của mình thì mới có thể hiểu được thế nào là khoan dung.

Điều mà người quân tử thực sự chú ý quan tâm đến là bản thân mình trong quá trình làm việc nào đó có đạt được sự trưởng thành hay không mà thôi.

4. Giữ được bản ngã

Chỉ khi một người giữ được bản ngã, không hùa theo trào lưu thì làm việc mới không phân tâm và càng chuyên tâm vào công việc hơn.

Mỗi người đến với thế giới này đều có vị trí thích hợp nhất của mình, mà vị trí này từ khi họ chào đời đã được sắp đặt sẵn sàng, chỉ đợi họ đến nhận lấy và ngồi vào.

Mỗi con người đều là độc nhất vô nhị, thiên phú của họ đều độc đáo, vị trí của họ cũng nhất định độc đáo như thế.

5. Tiến thoái có chừng mực

Người có tầng thứ cao hiểu được giữ chừng mực. Chừng mực ở đây không phải là xa cách, cũng không phải là ngạo mạn, mà là đứng ở góc độ cao hơn, nhận thức rõ vị trí của mình, sau đó thực hiện những hành động thích hợp.

Biết rõ người ta cũng không cần nói ra hết, nói hết thì sẽ không có bạn bè. Trách người ta cũng không cần quá hà khắc, kể hết lỗi, hà khắc kể hết lỗi thì mọi người sẽ rời xa. Kính trọng người ta cũng không cần hạ thấp mình hết cỡ, hạ thấp mình hết cỡ thì mất đi cốt cách. Nhường nhịn người ta cũng không cần lùi hết cỡ, lùi hết cỡ thì cũng hết đường.

Mức độ nắm bắt chừng mực của một người sẽ thể hiện ra tầng thứ cao thấp của người đó. Người tầng thứ thấp thì khiến người khác cảm thấy như hóc xương trong cổ họng, còn người có tầng thứ cao thì khiến người khác cảm thấy như ngụp lặn trong làn gió xuân.

Ảnh: Pixabay

6. Trân quý cuộc sống

Nhà văn Pháp đoạt giải Nobel văn học là Romain Rolland có câu nói kinh điển: “Trên thế giới chỉ có một chủ nghĩa anh hùng chân chính, đó chính là sau khi nhận thức chân tướng cuộc sống vẫn yêu cuộc sống nồng nàn”.

Cô vợ lái xe không cẩn thận đâm vào trụ cứu hỏa bên đường khiến xe lật, hai vợ chồng bị thương nhẹ.

Thông thường như thế này thì người chồng sẽ trách mắng vợ lái xe không cẩn thận, dẫn đến cãi nhau. Nhưng thật bất ngờ, sau khi thấy thương tích không đáng kể gì mấy, hai vợ chồng cười vui vẻ và... chụp selfie.

Đối với người chồng mà nói, mỗi sự kiện mà anh và vợ trải qua đều đáng kỷ niệm.

Đúng vậy, chỉ cần người vẫn còn thì việc gì cũng có khả năng giải quyết được.

7. Cuộc sống không thể qua loa cẩu thả

Ở một nơi nọ có một cửa hiệu nhỏ vừa khai trương. Trước đó, các cửa hiệu mở ra ở đây một thời gian ngắn đều phải đóng cửa.

Chủ cửa hiệu nhỏ này là một đôi vợ chồng trẻ. Họ chỉ dán một tờ giấy đỏ lên trên cửa, trên đó viết tên cửa hiệu, bán bánh bao.

Một chiếc nồi điện một ngày hấp cũng chẳng được bao nhiêu bánh. Hàng xóm thấy thế đều cảm thấy buồn cho họ, thế này thì sống thế nào được?

Nhưng thật không ngờ, đã mấy tháng trôi qua, người đến mua càng ngày càng nhiều. Cuối cùng tờ giấy đỏ đó lại viết thêm mấy chữ, còn bán bánh hấp, bánh nhân đường và bánh bông lan.

Lại mấy tháng nữa trôi qua, lại dán thêm một tờ giấy đỏ, trên đó viết có bán ngô luộc, rồi trứng muối và dưa muối.

Lại mấy tháng nữa qua đi, người chồng vừa đẩy chiếc xe vừa gõ leng keng, đẩy xe lên phố bán.

Đôi vợ chồng trẻ này như ngọn cỏ run rẩy sau cơn mưa, nhưng trong mắt họ đâu có cảnh tuyệt vọng nào?

Trong từng ngóc ngách cuộc sống, chúng ta vẫn thấy có những người tự ruồng bỏ mình, cũng thấy có những sức sống mãi mãi không buông bỏ.

Khác biệt là ở chỗ chúng ta muốn học tập bên nào mà thôi.

Thanh Bình
Theo Vision Times

[videoplayer link="https://video3.dkn.tv/hoc-cach-lam-chu-ban-than-gio-lon-khong-lay-chuyen-duoc-nui_68ddc9d48.html"]